Loading...

Xoay vòng - Cycling (Chopin-Fantaisie Impromptu) (P37)

15/04/2024 10:12:06
1142

Xoay vòng là quy cách xây dựng kỹ thuật tốt nhất cho các thứ chẳng hạn các câu/đoạn mới hoặc nhanh mà bạn không thể xử lý. Xoay vòng (còn gọi là " vòng lặp - looping") là tách riêng ra một phân khúc nhỏ (segment) rồi chơi nó lặp đi lặp lại; thông thường là một cách liên tục, không hề có chỗ ngắt dừng. Nếu một móc liên kết mà cần cho sự xoay vòng một cách liên tục cũng chính là nốt đầu tiên của phân khúc đó, thì phân khúc này sẽ xoay vòng tuần hoàn một cách tự nhiên; nó được gọi là một phân khúc-tự tuần hoàn (self-cycling segment). Một ví dụ là nhóm bốn nốt [quadruplet] CGEG. Nếu một móc liên kết cần có là khác, bạn cần tự sáng tạo ra một móc [chẳng hạn thêm mốt nốt hợp lý nào đó vào phân khúc -ND] mà nó giúp dẫn [nốt cuối của phân khúc-ND] trở lại nốt thứ nhất của phân khúc để bạn có thể xoay vòng phân khúc đó một cách tuyệt đối liên tục. 


Xoay vòng về căn bản là sự thuần lặp đi lặp lại, nhưng điều quan trọng lại là sử dụng nó hầu như là một quy trình chống-lặp lại (anti-repetition procedure), một cách thức nhằm tránh sự lặp lại máy móc vô nghĩa. Ý nghĩa đằng sau sự xoay vòng này là bạn cần thụ đắc một kỹ thuật nào đó thật nhanh mà điều đó sẽ giúp bạn trừ khử sự lặp lại không cần thiết, vô nghĩa, máy móc. Nhằm tránh khỏi sự thâu nhiễm các thói quen xấu, hãy thay đổi tốc độ và thử nghiệm với các tư thế bàn tay/cánh tay/ngón tay khác nhau sao cho bạn đạt hiệu quả chơi tối ưu và luôn luyện tập với sự thư giãn; gắng không xoay vòng một thứ y hệt quá nhiều lần. Hãy chơi khẽ (ngay cả các đoạn cường độ lớn) cho tới khi bạn đạt được kỹ thuật đó, tốc độ cần đạt tối thiểu là 20% trên tốc độ yêu cầu, và, nếu có thể, lên tới gấp đôi tốc độ yêu cầu (final speed). Trên 90% của thời gian luyện tập xoay vòng nên chơi ở các tốc độ mà bạn có thể xử lý một cách thoải mái và chính xác. Rồi xoay vòng giảm tốc dần dần cho tới các tốc độ rất chậm. Bạn sẽ hoàn thành một sự luyện tập xoay vòng khi mà bạn đã có thể chơi phân khúc đó ở bất kỳ tốc độ nào trong bất kỳ chiều dài thời gian nào, mà không phải nhìn vào bàn tay, một cách hoàn toàn thoải mái, và với sự chủ động/kiểm soát hoàn toàn. Bạn có thể phát hiện ra rằng ở các tốc độ trung bình nào đó [tức giữa tốc độ nhanh nhất và tốc độ chậm nhất- ND] thì bạn gặp trở ngại. Khi đó, hãy luyện tập xoay vòng ở các tốc độ này bạn chúng có thể được cần khi bạn bắt đầu HT. Hãy luyện tập mà không sử dụng pedal (một phần là nhằm tránh nhiễm thói quen xấu của sự không nhấn hết phím cho tới khi kỹ thuật bạn cần đã được hoàn thiện. Luân chuyển thường xuyên giữa hai bàn tay để tránh chấn thương.


Nếu một kỹ thuật đòi hỏi 10.000 lần lặp lại (một yêu cầu tiêu biểu cho những thứ thật sự khó), thì sự xoay vòng cho phép bạn hoàn thành số lần lặp lại đó trong thời gian ngắn nhất có thể. Thời gian tiêu biểu cần cho một vòng quay là khoảng độ 1 giây, như thế 10.000 vòng quay chiếm chưa đầy 4 tiếng đồng hồ. Nếu bạn xoay vòng một phân khúc trong 10 phút một ngày, 5 ngày một tuần, thì 10.000 vòng quay chiếm chưa đầy một tháng. Hiển nhiên, những thứ rất khó sẽ chiếm của bạn nhiều tháng luyện tập ngay cả khi bạn sử dụng các phương pháp tốt nhất, và còn lâu hơn nhiều nữa nếu bạn sử dụng các phương pháp kém hiệu quả hơn. 


Xoay vòng tiềm tàng khả năng gây chấn thương cao nhất trong các quy trình luyện tập piano, vì vậy làm ơn thận trọng. Đừng tập quá trớn vào ngày đầu tiên, và xem có gì xảy ra hôm sau. Nếu không có đau nhức gì hôm sau, bạn có thể tiếp tục hoặc gia tăng luyện tập quay vòng. Trên hết, bất cứ khi nào bạn quay vòng, hãy thực hiện hai sự xoay vòng đồng thời, một cho RH và cái kia cho LH để bạn có thể luân chuyển hai tay thường xuyên.Với người còn trẻ, xoay vòng quá mức có thể gây đau nhức; trong trường hợp đó, hãy dừng quay vòng, và bàn tay sẽ tự hồi phục trong vài ngày sau. Với người lớn tuổi hơn xoay vòng quá mức có thể gây thấp khớp cấp phát (osteo-arthritic flare-ups) mà có thể mất nhiều tháng mới dịu đau. 


Hãy áp dụng luyện tập xoay vòng với bản Fantaisie Impromptu của Chopin : phần arpeggio tay trái, ô nhịp thứ 5. Sáu nốt đầu tiên lập thành một phân khúc tự tuần hoàn, vì vậy có thể thử nó. Khi tôi lần đầu thử nó, quãng dan tay là quá lớn với đôi bàn tay nhỏ của tôi, vì thế tôi bị mỏi quá nhanh. Điều tôi đã thực hiện là xoay vòng 12 nốt đầu tiên Lần thứ hai, 6 nốt dễ hơn cho phép hai tay tôi nghỉ ngơi một chút và do đó giúp tôi có thể xoay vòng phân khúc 12 nốt lâu hơn và với tốc độ cao hơn. Dĩ nhiên, nếu bạn thực sự muốn tăng tốc (không cần thiết cho LH nhưng có thể hữu dụng cho RH trong tác phẩm này) xoay vòng chỉ nhóm parallel set thứ nhất (nhóm 3 hoặc 4 nốt cho LH). 


Khả năng chơi phân khúc thứ nhất của bạn không tự động khiến bạn chơi được tất cả các arpeggio khác. Thực tế, bạn sẽ cần khởi đầu thậm chí từ vạch xuất phát cho cùng những nốt y như vậy cách một quãng tám thấp hơn. Dĩ nhiên, arpeggio thứ hai sẽ dễ dàng hơn sau khi bạn đã thuần thục arpeggio thứ nhất, nhưng bạn có thể kinh ngạc với khối lượng luyện tập bạn cần để lặp lại khi chỉ có một thay đổi nhỏ trong phân khúc đó. Điều này xảy ra bởi có rất nhiều bắp cơ trong cơ thể bạn mà não bộ bạn có thể chọn một bộ bắp cơ khác để tạo những động tác mà chỉ rất ít khác nhau (và nó thường làm như vậy). Không như một robot, bạn hầu không có lựa chọn về việc các bắp cơ nào mà não bộ của bạn sẽ chọn dùng. Chỉ khi bạn đã thực hiện một lượng rất lớn các arpeggio như vậy thì cái arpeggio mới mới trở nên dễ dàng. Vậy nên, bạn nên sẵn sàng việc mình phải xoay vòng không ít cho các arpeggio. 


Để hiểu cách luyện tập tác phẩm này của Chopin, sẽ hữu ích khi phân tích nền tảng toán học của cấu trúc phân nhịp 3 đối 4 của tác phẩm này. RH chơi rất nhanh, chẳng hạn 4 nốt trong nửa giây (xấp xỉ vậy). Cùng lúc đó, LH đang chơi ở tốc độ chậm hơn, 3 nốt trong nửa giây. Nếu tất cả các nốt này được chơi chính xác, thì thính giả nghe một tần số các nốt tương đương 12 nốt trong nửa giây, bởi tần số này ứng với quãng thời gian bé nhất giữa các nốt. Tức là, nếu RH của bạn đang chơi nhanh hết mức nó có thể, thì bằng sự thêm vào một sự chơi CHẬM HƠN với LH, Chopin đã thành công trong việc đẩy bản nhạc này lên gấp 3 lần tốc độ tối đa ! 


Nhưng hãy gượm đã, không phải tất cả 12 nốt đều hiện hữu; mà thực tế chỉ có 7 nốt, vậy là 5 nốt bị mất. Những nốt bị khuyết mất này tạo thành cái được gọi là một mẩu Moiré [Moiré pattern] mà nó là một mẩu thứ ba mà xuất hiện khi hai mẩu bất cân xứng (incommensurate patterns) chồng chéo lên nhau. Mẩu này tạo sinh một hiệu ứng tựa sóng (wavelike effect) bên trong mỗi ô nhịp và Chopin đã củng cố hiệu ứng này bằng cách sử dụng một LH arpeggio dâng lên ra hạ xuống như một con sóng trong sự đồng bộ với mẩu Moiré. Sự gia tốc của một nhân tố của 3 và mẩu Moiré là những hiệu ứng bí ẩn đối với thính giả bởi họ không hay biết gì về cái đã tạo ra chúng, hoặc ngay cả sự tồn tại của chúng. Các cơ chế mà tác động lên thính giả mà họ không hề hay biết gì hết thường tạo nên các hiệu ứng sâu sắc hơn các hiệu ứng mà trông thấy rõ (chẳng hạn [chơi] lớn/nhỏ, legato, hoặc rubato). Các soạn nhạc gia vĩ đại đã sáng chế ra một lượng không thể nào tin được những cơ chế được che giấu này và một sự phân tích toán học thường là cách dễ nhất để xua chúng ra ngoài ánh sáng [tức, khai mở bí mật đó-ND]. Chopin có lẽ chưa từng suy nghĩ ở các khía cạnh các nhóm bất cân xứng [incommensurate set] và các mẩu Moiré; ông hiểu bằng trực giác những khái niệm này nhờ thiên tài của ông. 


Cần làm rõ nguyên do sự khuyết nốt thứ nhất của ô nhịp thứ 5 trong RH vì nếu chúng ta có thể giải mã lý do này, chúng ta sẽ hiểu chính xác cách chơi nó. Lưu ý rằng hiện tượng này xảy ra tại đầu của giai điệu RH. Ở đầu của một giai điệu hay một đoạn nhạc, các soạn nhạc gia luôn lâm vào hai yêu cầu trái nghịch nhau: một là rằng bất kỳ câu nhạc nào (nói chung) đều nên khởi đầu nhẹ, và cái thứ hai là rằng nốt thứ nhất của một ô nhịp lại là phách mạnh và nên được nhấn. Nhà soạn nhạc có thể khéo léo thoả mãn cả hai yêu cầu này bằng cách loại bỏ nốt thứ nhất, bằng cách đó vẫn duy trì tiết tấu mà vẫn khởi đầu nhẹ (trong trường hợp này là không có âm thanh nào) ! Bạn sẽ chẳng hề khó khăn để phát hiện thấy vô số ví dụ cho thủ thuật này -- xem các bản Invention của Bach. Một thủ thuật khác là khởi đầu câu nhạc ở cuối một ô nhịp thiếu để cho phách mạnh đầu tiên rơi vào ô nhịp đầy đủ thứ nhất sau khi một vài nốt đã được chơi (một ví dụ cổ điển của thủ thuật này là phần khởi đầu của chương thứ nhất của bản Appassionata của Beethoven). Điều này nghĩa là nốt thứ nhất của RH trong ô nhịp này của bản FI của Chopin phải chơi khẽ và nốt thứ hai thì lớn hơn nốt thứ nhất, nhằm tuân thủ chặt chẽ tiết tấu (một ví dụ khác về sự quan trọng của tiết !). Chúng ta chưa quen chơi cách này; cách chơi thông thường là khởi đầu nốt thứ nhất như một phách mạnh. Nó thì đặc biệt khó trong trường hợp này bởi tốc độ cao; bởi vậy phần khởi đầu này có thể cần thêm luyện tập.  


Tác phẩm này khởi đầu bằng sự dần dần thu hút thính giả vào trong tiết tấu của nó như một gọi mời vô phương kháng cưỡng, sau khi khêu gợi người nghe bằng một quãng tám cực mạnh của ô nhịp thứ 1 mà được theo sau bằng một arpeggio nhịp nhàng LH. Nốt bị khuyết ở ô nhịp thứ 5 được phục hồi sau nhiều lần lặp lại, bằng cách ấy làm tăng gấp đôi tần số lặp Moiré và tiết tấu hiệu lực. Trong nhạc đề thứ hai (ô nhịp thứ 13), giai điệu trôi chảy của RH được thay bằng hai hợp âm rải (broken chord), bằng cách ấy gây ra cái ấn tượng tăng gấp bốn lần cho tiết tấu. Sự "tăng tốc tiết tấu" [rhythmic acceleration] này lên cực điểm ở sức mạnh cực điểm của các ô nhịp thứ 19-20. Thính giả sau ấy được đãi một lúc nghỉ xả hơi bằng một sự "xoa dịu" của cái tiết tấu mà được kiến tạo bằng cái nốt trì hoãn (ngón út) du dương RH rồi tới sự vơi nhẹ dần của nó, được thực hiện bằng lối diminuendo giảm dần cho tới PP. Toàn bộ chu trình bấy giờ được lặp lại, lần này với các yếu tố được gia thêm mà khiến nổi bật cái cao trào cho tới khi nó kết thúc trong những hợp âm rải vụn theo chiều đi xuống (descending crashing broken chords). Để luyện tập phần này, mỗi hợp âm rải có thể được xoay vòng tách biệt. Các hợp âm này thiếu cái cấu trúc 3,4 và mang bạn ra khỏi cái thế-giới-ở-dưới (nether-world) 3,4 huyền bí, chuẩn bị cho bạn phần chậm [slow section]. 


Như với hầu hết các tác phẩm của Chopin, không hề có nhịp/tốc độ (tempo) "đúng" nào cho tác phẩm này. Tuy nhiên, nếu bạn chơi nhanh hơn chừng 2 giây/ô nhịp, thì hiệu quả nhân [multiplication effect] 3x4 có xu hướng biến mất và bạn thường chỉ còn được để lại với chủ yếu là Moiré và các hiệu ứng khác. Hiện tượng này phần nào là bởi sự chính xác giảm dần với tốc độ nhưng quan trọng hơn là bởi tốc độ 12x trở nên quá nhanh cho tai ta theo kịp. Cao hơn chừng 20 Hz, những lần lặp lại bắt đầu có những thuộc tính của âm thanh với tai con người. Vì vậy thủ thuật làm gấp bội (multiplication device) chỉ có hiệu quả cho tới xấp xỉ 20 Hz; cao hơn mức đó, bạn sẽ có một hiệu ứng mới, mà nó thậm chí còn đặc biệt hơn cả tốc độ không thể nào tin – các “nốt nhanh” bị biến thành “âm thanh có tần số thấp” Do vậy mà 20 Hz là một thứ ngưỡng âm [sound threshold].

Đây là lý do tại sao nốt thấp nhất của cây đàn piano là một nốt A có tần số xấp xỉ 27 Hz. Ở đây có một điều đáng vô cùng kinh ngạc: có bằng chứng rằng Chopin đã nghe được hiệu ứng này ! Lưu ý rằng đoạn nhanh của tác phẩm được ghi chú tại chỗ ban đầu với cụm từ “Allegro agitato”, mà có nghĩa rằng mỗi một nốt phải được nghe rõ ràng. Trên máy đánh nhịp, Allegro tương ứng với cái tốc độ 12X của 10 tới 20 Hz, tần số thích hợp để nghe được hiệu ứng gấp bội nọ, vừa đúng dưới chút xíu “ngưỡng âm”. “Agitato” bắt ta phải chắc chắn rằng tần số này là phải được nghe. Khi đoạn nhanh này quay trở lại sau phần Moderato, nó được ghi Presto, ứng với 20 tới 40 Hz -- ông muốn chúng ta chơi nó thấp hơn và cao hơn cái ngưỡng âm ! Do đó mà, có bằng chứng toán học khi giả thiết rằng Chopin quả biết về cái ngưỡng âm này. 


Đoạn chậm ở giữa của tác phẩm đã được miêu tả vắn tắt ở mục II.25. Cách nhanh nhất để học nó, tương tự các tác phẩm khác của Chopin, là bắt đầu bằng việc học thuộc LH. Ấy là bởi tiến trình hoà âm (chord progression) của nó thường giữ nguyên ngay cả khi Chopin thay RH bằng một giai điệu mới, bởi LH chủ yếu cung cấp các hoà âm đệm. Lưu ý rằng lối phân nhịp 4,3 bây giờ được thay bằng phân nhịp 2,3 được chơi chậm hơn nhiều. Nó được sử dụng để tạo một hiệu ứng khác, nhằm làm dịu bản nhạc và cho phép một sự tự do hơn về nhịp điệu [tempo rubato]. 


Đoạn thứ ba của tác phẩm thì tương tự đoạn thứ nhất ngoại trừ việc nó được chơi nhanh hơn, tạo ra một hiệu ứng hoàn toàn khác, và phần kết của nó thì khác. Phần kết đoạn này là khó khăn với những bàn tay nhỏ và có thể yêu cầu thêm khối lượng luyện tập xoay vòng RH. Ở đoạn này, ngón út RH mang giai điệu, những nốt quãng tám ngón cái đáp âm lại là cái khiến cho giòng giai điệu phong phú hơn. Tác phẩm kết bằng một sự tái hiện gợi tưởng của nhạc đề đoạn chậm ở LH. Cần làm nổi bật nốt cao nhất của giai điệu LH này (G# - ô nhịp thứ 7 tính từ cuối lên) một cách rõ nét từ cái nốt giống nó được chơi RH bằng cách giữ nó hơi lâu một chút và rồi cho nó ngân bằng pedal.  


Nốt G# này là nốt quan trọng nhất trong tác phẩm này. Vì lẽ đó mà quãng tám sf G# không chỉ là một fanfare giới thiệu tác phẩm, mà là một cách thông minh để Chopin cấy nốt G# vào óc người nghe. Vì thế, đừng hối hả nốt này; hãy thong thả và để nó chìm sâu vào. Nếu bạn xem suốt bản nhạc, bạn sẽ thấy rằng nốt G# chiếm ngụ tất cả các vị trí quan trọng. Ở đoạn chậm, nốt G# là một Ab, mà vẫn là cùng nốt. Nốt G# này là một cái khác trong các thủ thuật mà trong chúng các soạn nhạc gia vĩ đại lặp đi lặp lại nhiều lần "đánh vào đầu thính giả bằng một cú hai nhân bốn [two-by-four]" (G#), mà thính giả không hề hay biết là cái gì đã đánh họ. Với người chơi piano, sự hiểu biết về nốt G# này sẽ giúp diễn tấu và thuộc tác phẩm. Theo đó cái cao trào về ý niệm (conceptual climax) của bản này xảy ra ở phần cuối tác phẩm (như nên thế) khi cả hai tay phải chơi cùng nốt G# (các ô nhịp 8 và 7 ngược từ cuối bài lên); vì vậy, nốt LH-RH G# phải được khai triển với vô cùng chăm chút, trong khi duy trì quãng tám RH G# đang liên tục giảm âm.


Sự phân tích của chúng ta giờ tập trung vào một tâm điểm quan trọng, là thắc mắc về vấn đề rằng bản này phải chơi nhanh thế nào. Sự chính xác cao là được đòi hỏi để làm nổi bật hiệu ứng 12-nốt và chơi cực cùng chính xác cao hơn mức ngưỡng âm. Nếu bạn học tác phẩm này lần đầu, thì tần số 12-nốt ban đầu có thể không nghe thấy bởi thiếu sự chính xác. Khi bạn cuối cùng "bắt được nó" thì bản nhạc sẽ thình lình nghe rất “hối hả”. Nếu bạn chơi quá nhanh và mất chính xác, bạn có thể mất nhân tố đó 3 nốt -- nó bị loãng đi và thính giả chỉ nghe 4 nốt. Với người mới học thì tác phẩm này có thể được làm cho nghe nhanh hơn bằng cách giảm tốc và tăng sự chính xác. Mặc dù RH mang giai điệu, LH phải được nghe rõ; bằng không, cải cái hiệu ứng 12-nốt và mẩu Moiré sẽ cùng biến mất Vì đây là một tác phẩm Chopin, không hề có đòi hỏi nào rằng cái hiệu ứng 12-nốt phải được nghe; tác phẩm này gánh chịu lượng vô tận những cách diễn giải, và một số thì muốn chèn ép LH and và tập trung vào RH, mà vẫn tạo ra cái gì huyền diệu.  


Một ưu điểm của phương pháp xoay vòng là rằng bàn tay thì đang chơi liên tục, điều mà kích hoạt sự chơi liên tục tốt hơn nếu bạn luyện tập thành các phân khúc tách biệt. Nó còn cho phép bạn thử nghiệm với những thay đổi nhỏ ở thế ngón,vv nhằm phát hiện những điều kiện tối ưu cho sự chơi. Nhược điểm của nó là các chuyển động của bàn tay khi xoay vòng có thể khác với những chuyển động cần có khi chơi tác phẩm. Hai cánh tay có xu hướng bất động trong lúc xoay vòng trong khi trong thực tế, hai bàn tay thường cần chuyển động. Do đó, trong những trường hợp mà phân khúc không xoay vòng tự nhiên, bạn có thể cần sử dụng sự luyện tập phân khúc, mà không quay vòng. Một ưu điểm của phương pháp không-xoay vòng là rằng bạn bấy giờ có thể bao gồm móc/nốt liên kết (conjunction). 

Soạn giả: Chuan C. Chang (nhà khoa học)

Biên tập:  Lê Minh Hiền (nhạc sĩ)

Dịch giả: Nhật Nguyệt (thi sĩ), Đại Nhật

*** Chia sẻ, sao chép vui lòng ghi rõ nguồn bài viết thuộc bản quyền Harmony Co.,Ltd

Danh mục tin tức

Loading...

Tin mới nhất

Chứng chỉ âm nhạc quốc tế AMEB là thước đo chuẩn mực về đào tạo âm nhạc và được công nhận trên toàn cầu.

Tư duy âm nhạc là gì? Có những loại hình tư duy âm nhạc nào? Hãy cùng Clevai Math tìm hiểu bài viết này nhé. 

PHẦN 11: Phương pháp luyện tập đàn piano - nguyên lý và nguyên tắc nền tảng

PHẦN 45: Phương pháp luyện tập đàn piano - nguyên lý và nguyên tắc nền tảng