CÁC TƯ THẾ NGÓN TRONG LUYỆN TẬP ĐÀN PIANO
Khi luyện tập đàn piano, tư thế ngón tay rất là quan trọng trong việc kiểm soát tiếng đàn nhằm thể hiện được những màu sắc âm thanh và ý tưởng như mong muốn. Bài viết dưới đây sẽ giới thiệu các tư thế ngón tay, ưu khuyết điểm của từng thế ngón và ứng dụng các thế ngón vào những tác phẩm tiêu biểu.
Quy ước đốt ngón là tên gọi xương ngón tay ở trên khớp; được đánh số từ 1 đến 3 (ngón cái chỉ có 1 và 3) và các đốt thứ 3 gọi là “đốt đầu/đốt móng”. Tóm lại: 1 – đốt cuối; 2 – đốt giữa; 3 – đốt đầu.
Tư thế ngón tay cong vòm
Đây là tư thế “thư giãn” tự nhiên của các ngón tay, khi bạn buông lỏng tay xuống hai bên. Điều này dễ dàng với người đàn piano nhiều năm, nhưng đối với các trẻ từ 3 tuổi hoặc người chưa bao giờ học piano sẽ không biết được sự buông lỏng tay để đàn piano ở bất kỳ tư thế nào.
Đặt bàn tay xuống mặt phẳng với khoảng cách hợp lý, bàn tay như thể đang có một trái bóng nhỏ đặt trong lòng với ngón cong vòm và các đầu ngón chạm trên mặt phẳng, cổ tay có cùng độ cao với các khớp đốt ngón tay, ngón tay cái nên hơi chúc xuống và gập nhẹ về hướng các ngón tay sao cho đốt có móng tay của ngón cái song song với các ngón còn lại (khi nhìn từ trên xuống).
Hơi gập vào phía trong của ngón cái sẽ hữu ích khi đàn những quãng dãn rộng, lúc này đầu ngón cái song song với các phím và giúp nó giảm rủi ro khi đàn nhầm các phím kế cận, đồng thời định hướng ngón cái sao cho các cơ thích hợp sẽ được sử dụng khi nhấc lên và hạ xuống.
Nếu bạn làm điều này với cả hai bàn tay đặt cạnh nhau thì hai móng của hai ngón cái sẽ đối diện nhau, ngón cái vốn đã ngắn, do đó, phải đàn bằng đầu ngón để tạo sự đồng đều tối đa với tất cả các ngón khác, hãy sử dụng phần thịt bên cạnh ngón cái để đàn (không dùng khớp nối giữa đốt hoặc đầu ngón). Với các đầu các ngón tay khác thì dùng phần thịt đệm của đầu ngón dày hơn để tiếp xúc với mặt phím góc xấp xỉ từ 45 độ.
Tư thế cong vòm ngón luôn được giáo viên dạy, nhất là đối với những nhạc sinh mới bắt đầu học piano. Tuy nhiên mỗi nhạc sinh đàn piano đều có tư thế (cấu trúc ngón tự nhiên) riêng, nếu giáo viên ép nhạc sinh đều làm theo một tư thế cong vòm này, có thể sẽ làm chậm tiến bộ vì cơ khớp ngón mỗi cá nhân có mức độ kiểm soát khác nhau.
Tư thế ngón tay gãy “tư thế bất thường”
Tư thế ngón tay gãy, phần đầu ngón tay bị hướng ra ngoài, rất nhiều giáo viên không thích tư thế này vì nhìn thấy thế ngón không đẹp, có thể khó khăn trong việc phân bổ các động tác linh hoạt với nhiều động tác dư. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có giải thích nào về của việc gãy ngón này là không đúng.
Tư thế đầu ngón phẳng (FFP – Flat Finger Positions)
Đây là tư thế vốn ít được dạy, nhưng lại có nhiều lợi ích hơn hẳn tư thế cong ngón. Đặt bàn tay xuống mặt phẳng, các đầu ngón chạm trên mặt phẳng duỗi ngón với độ cong đầu ngón khoảng 20 độ so với mặt phẳng. (Tư thế đầu ngón phẳng cực độ nhất là tư thế ngón tay được duỗi thẳng).
Mỗi nhạc sinh đàn piano đều có tư thế ngón tự nhiên riêng, chưa từng có nghiên cứu về tư thế ngón nào là tốt nhất, các nghệ sĩ piano thường sử dụng các tư thế ngón khác nhau trên cả phím trắng và phím đen và có thể kết hợp đàn phím đen với tư thế FFP và phím trắng với tư thế cong vòm ngón.
MỞ RỘNG CÁC TƯ THẾ NGÓN KHÁC TỪ FFP
Trở lại với tư thế ngón tay thẳng FFP, khi đàn, các gân chằng dưới xương ngón giữ cho các ngón duỗi, không giống như tư thế cong ngón, không cần mất sức để giữ ngón thẳng vì các gân giữ để hạn chế cong ngược, có nhiều nghệ sĩ có đốt đầu cong ngược tự nhiên, điều này không có gì sai và không cản trở tư thế ngón tay thẳng FFP.
Hãy học cách dùng các gân này để giúp thả lỏng đốt đầu và đốt móng (đốt móng giữ vai trò giảm sốc). Khi đàn cường độ fortissimo (ff) với ngón cong, cả cơ duỗi lẫn cơ gấp phải được kiểm soát để giữ tư thế cong. Trong FFP, cơ duỗi được thả lỏng và chỉ có cơ gấp được sử dụng tạo sự thoải mái.
Phương pháp tốt nhất để kiểm tra FFP là đàn gam Si trưởng, trong đó các ngón 2,3,4 đàn phím đen, ngón 1 và 5 đàn phím trắng. Vì ngón 1 và 5 nói chung không nên đàn phím đen khi chạy ngón (một quy tắc đặt ngón), đây chính xác là cái bạn cần.
Tư thế tháp chóp: được xây dựng từ FFP các ngón thẳng, nhưng cong xuống tại khớp đốt. Tư thế này có ưu điểm là cử động nhấn nhím đơn giản hơn so với tư thế cong ngón. Nhiều người đàn piano cảm thấy thư giãn tự nhiên khi ở tư thế này.
Tư thế chân nhện: cũng tương tự như tư thế tháp chóp, ngoại trừ đoạn cong diễn ra hầu hết ở khớp đầu sau khớp đốt. Như với tư thế tháp chóp sẽ tạo ra một số hiệu ứng âm thanh đặc biệt, đây là tư thế tự nhiên phù hợp với cấu trúc không phải dành cho tất cả mọi nhạc sinh nên đừng bận tâm nếu bạn không thể đàn tư thế này. Trong các kiểu FFP, thế chân nhện có thể là linh hoạt nhất (đây là tư thế của loài côn trùng đã tiến hóa hàng trăm triệu năm).
Cả hai tư thế tháp chóp và chân nhện đều mang mọi ưu điểm của tư thế FFP thẳng.
Chopin nổi tiếng với ngón legato và saccato thần sầu nhờ chơi FFP.
Đừng lo lắng nếu bạn không thể dùng hết tất cả tư thế này. Hãy sử dụng những tư thế thoải mái, tự nhiên với bạn. Mục đích của thảo luận này là để cảnh báo những giáo viên đừng ép mọi học viên đều dùng một tư thế cong ngón được lý tưởng hóa vì điều đó có thể phản tác dụng. Từng bàn tay đều khác biệt và từng tư thế đều có ưu nhược điểm riêng tùy thuộc vào từng người hơn là vào tư thế.
Tóm lại, nghệ sĩ piano Horowitz có lý do tốt để chơi với các ngón thẳng và bản thảo luận trên chỉ rằng, phần cấp độ kỹ thuật cao hơn của ông đã được sử dụng FFP nhiều hơn các tư thế khác. Dù tư thế cong ngón là cần thiết, nhưng tuyên bố “bạn cần phải đặt tư thế cong ngón để chơi những bản khó kỹ thuật” là sai lệch – cái ta cần là những ngón tay mềm dẻo. Chơi với FFP giải phóng ta để sử dụng nhiều tư thế đặt ngón linh hoạt và hữu ích. Đến đây, ta đã biết làm thế nào để đàn được bản nhạc và không bỏ sót ngón nào trên phím đàn. Xin cảm ơn, các nhạc sĩ Johann, Frederic, F. Liszt, Vladimir, Yvonne và Combe !
Soạn giả: Chuan C. Chang (nhà khoa học)
Biên tập: Lê Minh Hiền (nhạc sĩ)
Dịch giả: Nhật Nguyệt (thi sĩ), Đại Nhật
*** Chia sẻ, sao chép vui lòng ghi rõ nguồn bài viết thuộc bản quyền Harmony Co.,Ltd
Thói quen tập luyện đàn piano theo tính bản năng (P1)
Độ cao của ghế và khoảng cách giữa người đàn với bàn phím (P2)
Quy trình tập một tác phẩm mới: nghe, phân tích và cách tập luyện (P4)
Các mẹo đọc nốt nhạc, đọc bài nhạc dành cho người mới bắt đầu (P5)
Cấu trúc bàn tay và cách sắp xếp ngón trên bàn phím đàn piano (P6)